Ung thư vú và những điều bạn cần phải biết để bảo vệ cho chính mình

Những kiến thức về ung thư vú dưới đây sẽ phần nào giúp bạn kịp thời phòng ngừa, phát hiện và điều trị căn bệnh chết người này một cách hiệu quả.

bệnh ung thư vú

Ung thư vú là gì ?

Ung thư vú là sự phát triển không kiểm soát của các tế bào bất thường ở một trong những vùng ngực, bao gồm:

– Các ống mang sữa đến núm vú

– Các túi nhỏ tạo ra sữa (thùy tiết sữa)

– Các mô không tuyến

Ung thư vú được coi là xâm lấn khi các tế bào ung thư đã đột nhập vào niêm mạc ống hoặc thùy. Điều đó có nghĩa là các tế bào ung thư có thể tìm thấy trong các mô lân cận, chẳng hạn như mô mỡ và mô liên kết hoặc da. Ung thư vú không xâm lấn xảy ra khi các tế bào ung thư lấp đầy các ống nhưng chưa phát tán vào các mô xung quanh.

Những loại ung thư vú xâm lấn cơ bản

Ung thư biểu mô ống dẫn sữa xâm lấn

– Loại này phát triển trong ống dẫn sữa và chiếm 3/4 các trường hợp ung thư vú. Nó có thể xuyên qua thành ống và xâm chiếm mô mỡ của vú. Nó có thể lây lan (di căn) đến các bộ phận khác trên cơ thể qua dòng máu hoặc hệ bạch huyết.

Ung thư biểu mô tiểu thùy xâm lấn

– Loại này chiếm khoảng 15% trường hợp ung thư vú. Nó bắt nguồn từ các tiểu thùy tạo sữa của ngực. Nó có thể lan sang các mô mỡ của vú và những nơi khác trong cơ thể.

Ung thư biểu mô dạng tủy, dịch nhầy và sợi ống

– Những loại ung thư vú phát triển chậm này chiếm khoảng 8% số trường hợp.

Bệnh Paget

– Đây một dạng ung thư vú hiếm gặp. Nó bắt đầu trong các ống dẫn sữa của núm vú và có thể lan sang quầng vú. Những phụ nữ bị bệnh Paget thường có tiền sử núm vú đóng vảy, ngứa, hoặc viêm.

Ung thư biểu mô dạng viêm

– Đây là một dạng ung thư vú hiếm gặp khác. Nó có thể giống như một dạng nhiễm trùng, bởi vì thường không xuất hiện khối u. Da chuyển sang màu đỏ, ấm và có các chấm nhỏ như vỏ cam. Bởi vì nó lan rất nhanh nên ung thư biểu mô dạng viêm là dạng ung thư vú khó kiểm soát và điều trị nhất.

Vì ngày càng nhiều phụ nữ thường xuyên chụp X-quang tuyến vú nên bác sĩ sẽ phát hiện ra nhiều triệu chứng tiền ung thư hoặc các dấu hiệu chưa xâm lấn trước khi chúng trở thành ung thư. Những tình trạng này bao gồm

Ung thư biểu mô ống dẫn sữa tại chỗ (DCIS)

– Trường hợp này xảy ra khi các tế bào ung thư lấp đầy các ống dẫn nhưng vẫn chưa lan qua thành ống đến các mô mỡ. Gần như tất cả những phụ nữ được chẩn đoán ở giai đoạn đầu này có thể được chữa khỏi. Nếu không được điều trị, khoảng 25% số trường hợp DCIS sẽ dẫn đến ung thư vú xâm lấn trong vòng 10 năm.

Ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ (LCIS)

– Dạng này ít nguy hiểm hơn DCIS. Nó phát triển trong các tiểu thùy tạo sữa của ngực. LCIS không cần phải điều trị, nhưng nó cũng làm tăng nguy cơ phát triển ung thư trong những vùng khác của cả hai vú.

Nguy cơ mắc bệnh ung thư vú

bệnh ung thư vú

Nguy cơ phát triển ung thư vú của phụ nữ tăng theo độ tuổi; hơn ba phần tư trường hợp ung thư vú xảy ra ở phụ nữ trên 50 tuổi. Các yếu tố nguy cơ khác của ung thư vú bao gồm có họ hàng gần, như mẹ, chị em gái, hoặc bà đã bị bệnh này.

– Có gốc là người Do Thái Ashkenazi

– Từng phải xạ trị ngực vì một loại ung thư khác, chẳng hạn như bệnh Hodgkin

– Từng bị ung thư vú hoặc có một số dấu hiệu bất thường của các mô vú

– Phơi nhiễm hormone nữ estrogen trong thời gian dài – như có kỳ kinh đầu tiên trước 13 tuổi, mãn kinh sau tuổi 51, hoặc sử dụng liệu pháp thay thế hormone estrogen trong hơn 5 năm

– Chưa bao giờ có thai, hay mang thai lần đầu ở tuổi 30

– Béo phì, đặc biệt là sau khi mãn kinh

– Uống rượu (nguy cơ ung thư tăng gấp đôi nếu uống từ ba ly trở lên mỗi ngày)

– Có lối sống ít vận động và không tập thể dục thường xuyên.

Mặc dù bệnh ung thư vú ở phụ nữ phổ biến hơn khoảng 100 lần so với nam giới, nhưng nam giới cũng có thể bị bệnh này.

Triệu chứng để phát hiện bệnh ung thư vú

– U hoặc sự dày lên của ngực hay dưới cánh tay

– Núm vú tiết dịch trong hoặc lẫn máu

– Núm vú đóng vảy

– Núm vú không còn thò ra

– Đỏ hoặc sưng ngực

– Da trên ngực xuất hiện chấm nhỏ làm da giống vỏ cam

– Thay đổi trong đường nét của ngực. Chẳng hạn như một bên ngực cao hơn so với bên kia. Cảm giác đau hoặc vết loét trên ngực không chịu lành.

Chẩn đoán bệnh ung thư vú

Bác sĩ sẽ hỏi xem bạn có bất kỳ các yếu tố nguy cơ nào đối với bệnh ung thư vú. Đặc biệt là liệu gia đình bạn có ai bị bệnh không. Bác sĩ sẽ kiểm tra ngực của bạn. Tìm kiếm bất kỳ dấu hiệu và triệu chứng nào của ung thư vú. Chúng bao gồm u hoặc sự dày lên ở ngực, núm vú thụt vào trong hoặc tiết dịch, sưng hoặc thay đổi hình dáng ngực, da ngực đỏ hoặc có chấm nhỏ và các hạch bạch huyết lớn dưới cánh tay.

Nếu bác sĩ phát hiện khối u hoặc phim chụp X-quang tuyến vú phát hiện một khu vực mô vú bất thường thì sẽ khuyến nghị nên tiến hành các xét nghiệm khác để kiểm tra ung thư vú. Nếu bạn chưa chụp X-quang tuyến vú, đó có thể là bước tiếp theo. Nhưng trong các trường hợp khác, bước tiếp theo là siêu âm hoặc chụp cộng hưởng từ (MRI).

Tham khảo: 10 xét nghiệm ung thư phụ nữ cần biết

Siêu âm có thể xác định liệu khối u là một khối u rắn hay là u nang chứa dịch. Nó cũng có thể được sử dụng để đánh giá những khu vực bất thường trên phim chụp X-quang tuyến vú. Mặc dù không được thường xuyên thực hiện, nhưng MRI cũng được dùng để đánh giá các bất thường trên ảnh chụp, ước tính chính xác hơn về quy mô của ung thư, và kiểm tra các loại ung thư khác. MRI cũng có thể được sử dụng để kiểm tra những phụ nữ có nguy cơ ung thư vú cao.

Các xét nghiệm sinh tiết:

Nếu các khối u là u rắn, bác sĩ có thể sẽ khuyên bạn kiểm tra sinh thiết ngực. Để kiểm tra sinh thiết, một lượng mô vú nhỏ được lấy ra và phân tích trong phòng thí nghiệm. Đôi khi, bác sĩ của bạn sẽ đề nghị kiểm tra sinh thiết mà không làm siêu âm hoặc MRI trước.

Sinh thiết ngực có thể được thực hiện theo những cách khác nhau bao gồm:

– Chọc hút bằng kim: dùng một kim mảnh để lấy những mảnh mô từ khối u

– Sinh thiết lõi kim, cho phép lấy những mảnh mô lớn

– Sinh thiết lõi kim stereotactic, một dạng sinh thiết lõi kim có sử dụng các thiết bị chụp đặc biệt để xác định mô cần lấy

– Sinh thiết phẫu thuật, cho phép lấy toàn bộ hoặc một phần của khối u ở ngực.

Loại sinh thiết bác sĩ của bạn chọn sẽ tùy thuộc vào vị trí, kích thước và các yếu tố khác của khối u.

Kiểm tra xác định các yếu tố:

Một nhà bệnh lý học sẽ kiểm tra mô dưới kính hiển vi và xác định xem các mô có chứa các tế bào ung thư hay không. Nếu có, nhà bệnh lý học có thể xác định loại ung thư vú mắc phải. Nhà bệnh lý học cũng sẽ gán cấp độ cho ung thư. Cấp độ thể hiện các tế bào ung thư giống với tế bào bình thường đến mức nào. Cấp độ càng thấp nghĩa là ung thư phát triển chậm và ít có khả năng lây lan. Cấp độ cao hơn có nghĩa là ung thư là phát triển mạnh và rất có khả năng lây lan. Cấp độ cũng là một nhân tố mà các bác sĩ xem xét khi lên kế hoạch điều trị. Nhà bệnh lý học cũng có thể xác định tốc độ phân chia của các tế bào ung thư.

Tùy vào loại sinh thiết và việc các hạch bạch huyết xung quanh có bị lấy đi hay không, báo cáo sinh thiết có thể bao gồm các thông tin khác. Ví dụ, các báo cáo có thể làm rõ ung thư đã phát tán bao nhiêu.

Một bước quan trọng khác là xác định xem các tế bào ung thư có “dương tính với thụ thể hormone” estrogen và progesterone hay không. Thụ thể cho phép một số chất, chẳng hạn như các hormone bám lên tế bào. Tế bào vú bình thường có cả thụ thể cho cả estrogen và progesterone; các tế bào ung thư có thể không có, có một trong hai hoặc cả hai. Những người dương tính với thụ thể hormone thường được chẩn đoán khả quan hơn. Đó là bởi vì họ có nhiều khả năng phản ứng với liệu pháp hormone hơn.

Quyết định đánh giá kết quả:

Mẫu sinh thiết cũng nên được kiểm tra cho xem có chứa một protein kích thích tăng trưởng gọi là HER2 hay không. Gien HER2 khiến các tế bào tạo protein HER2. Ung thư với nhiều bản sao của gien HER2 tạo ra quá nhiều HER2. Ung thư loại này, gọi là ung thư dương tính HER2, có khuynh hướng phát triển và lan nhanh.

Thông tin này giúp đưa ra những quyết định điều trị đúng đắn. Ví dụ: người bị ung thư dương tính HER2 nên được điều trị bằng các loại thuốc tác động lên protein HER2.

Các xét nghiệm khác để xác định xem các ung thư đã lan ra hay chưa, bao gồm:

– Chụp cắt lớp xương

– Chụp cắt lớp (chụp CT)

– Chụp cắt lớp phát xạ (chụp PET) chụp PET để tìm các mô có sự trao đổi chất mạnh. Những biện pháp này rất có ích trong việc tìm kiếm ung thư đã lan sang các phần khác trên cơ thể.

Ung thư vú để lâu

Ung thư vú sẽ tiếp tục phát triển và lây lan cho đến khi được điều trị.

Ngăn ngừa ung thư vú

bệnh ung thư vú

Mặc dù không có gì bảo đảm, bạn có thể thực hiện các bước để giúp ngăn ngừa ung thư vú:

Xem thêm: Những thực phẩm chống ung thư hiệu quả

– Duy trì cân nặng hợp lý.

– Tập thể dục thường xuyên.

– Hạn chế rượu bia. (Các chuyên gia khuyến cáo phụ nữ không nên uống quá một ly mỗi ngày còn đàn ông thì không quá hai ly mỗi ngày.) Nếu có thói quen uống rượu, bạn có thể làm giảm nguy cơ ung thư vú bằng cách bổ sung folate.

– Kiểm tra vú ba năm một lần nếu bạn dưới 40 tuổi và một đến hai năm một lần nếu bạn trên 40 tuổi.

– Chụp X-quang tuyến vú một đến hai năm một lần bắt đầu từ lúc 50 tuổi. Một số chuyên gia cho rằng chụp X-quang tuyến vú nên bắt đầu ở tuổi 40. Tham khảo ý kiến của bác sĩ để được tư vấn thêm.

– Những phụ nữ cho rằng mình có thể có nguy cơ mắc ung thư vú cao hơn do di truyền nên nói chuyện với một chuyên gia tư vấn về di truyền. Những trường hợp này có thể cần thay đổi về loại hình và tần suất kiểm tra.

Một số phụ nữ thừa kế đột biến trong cái được gọi là gien ung thư vú – BRCA1 và BRCA2. Những đột biến gien này khiến nguy cơ bị ung thư vú và ung thư buồng trứng của họ rất cao. Những phụ nữ này cần kiểm tra thường xuyên hơn, thường kết hợp với MRI. Một số phụ nữ lựa chọn cắt bỏ vú và buồng trứng. Đây là cách tốt nhất để ngăn ngừa ung thư vú và buồng trứng.

Điều trị ung thư vú

Phẫu thuật

Điều trị ung thư vú thường bắt đầu với quyết định về loại hình phẫu thuật. Các nhân tố cần xem xét bao gồm:

– Loại ung thư vú được chẩn đoán

– Các đặc điểm của vật liệu sinh thiết gốc

– Ý kiến của bệnh nhân

Cắt bỏ toàn bộ vú. Cắt bỏ khối u (chỉ cắt bỏ khối u ung thư và một lượng nhỏ các mô khoẻ mạnh xung quanh).

Có thể phải tiến hành phân tích các mô ung thư vú bị cắt bỏ trong phẫu thuật. Mục đích là tìm các đặc điểm về phân tử và di truyền đôi khi gây ảnh hưởng đến quyết định về các liệu pháp bổ sung. Ngoài ra, kết quả có thể cung cấp thông tin liên quan đến nguy cơ ung thư cho các thành viên trong gia đình.

Xạ trị, hóa trị

Sau khi phẫu thuật, bác sĩ có thể khuyến nghị xạ trị, hóa trị, liệu pháp hormone, điều trị nhắm mục tiêu hoặc kết hợp nhiều liệu pháp. Các liệu pháp bổ sung làm giảm nguy cơ ung thư trở lại hay lây lan. Xạ trị thường được kiến nghị sau khi cắt bỏ khối u để tiêu diệt bất kỳ tế bào ung thư nào còn sót lại và ngăn ngừa ung thư tái phát. Nếu không xạ trị, khả năng tái phát tăng khoảng 25%.

Sự cần thiết của hoá trị phụ thuộc vào việc ung thư lan rộng đến mức nào và đặc điểm phân tử của ung thư. Trong một số trường hợp, hoá trị liệu được kiến nghị tiến hành trước khi phẫu thuật để thu nhỏ một khối u lớn để có thể cắt bỏ dễ dàng hơn. Hoá trị thường được tiến hành nếu ung thư tái phát.

Liệu pháp hormone:

Liệu pháp hormone thường được kiến nghị sử dụng nếu ung thư dương tính với thụ thể hormone. Loại thuốc được sử dụng thường xuyên nhất trong trường hợp này là tamoxifen. Nó khoá estrogen khỏi tế bào gây ung thư vú. (Estrogen có thể giúp tế bào ung thư phát triển.) Điều này có thể làm giảm nguy cơ ung thư tái phát đến 30%.

Thuốc ức chế aromatase là một dạng liệu pháp hormone khác. Những loại thuốc này làm giảm lượng estrogen trong cơ thể bằng cách ngăn cản sự sản xuất estrogen ở tất cả các mô ngoại trừ buồng trứng. Thuốc ức chế aromatase hữu ích nhất ở phụ nữ sau mãn kinh, bởi vì buồng trứng ngừng sản xuất estrogen sau khi mãn kinh.

Các loại thuốc có tập trung vào những biến đổi gen cụ thể để tấn công các tế bào ung thư được gọi là liệu pháp điều trị nhắm mục tiêu. Ví dụ, nếu ung thư vú của bạn là HER2 dương tính thì bác sĩ có thể kê trastuzumab (Herceptin). Thuốc này là phiên bản nhân tạo của protein hệ miễn dịch. Nó tự bám vào thụ thể HER2, làm chậm quá trình phát triển của ung thư. Nó cũng có thể kích thích hệ miễn dịch của bạn tấn công mạnh mẽ hơn.

Các loại thuốc khác cũng đang được phát triển để giúp đỡ trong việc điều trị những người mang gien khiến họ dễ bị một loại ung thư vú hay buồng trứng mà nhiều thành viên trong gia đình mắc phải.

Điều trị DCIS:

Điều trị DCIS thường là cắt bỏ khối u rồi xạ trị. Một số người có thể không cần xạ trị. Tuy nhiên, có thể phải tiến hành cắt bỏ vú. Ví dụ, biện pháp này có thể được kiến nghị nếu DCIS xảy ra ở nhiều hơn một vị trí. Hay nếu các tế bào khối u này đặc biệt đáng lo ngại khi kiểm tra sinh thiết. Các hạch bạch huyết cũng có thể bị cắt bỏ cùng với vú.

Trong hầu hết các trường hợp. Khả năng LCIS trở thành ung thư xâm lấn thấp hơn nên hầu như không cần điều trị. Tuy nhiên, phụ nữ mắc bệnh này dễ phát triển ung thư trong những khu vực khác của ngực. Vì vậy, họ nên thường xuyên chụp X-quang tuyến vú và kiểm tra vú. Để giảm nguy cơ ung thư vú, một số phụ nữ sử dụng liệu pháp hormone, chẳng hạn như tamoxifen. Và một số phụ nữ có thể chọn cắt bỏ bên ngực bị ung thư hoặc cả hai bên ngực. Đó là cách hiệu quả nhất để ngăn ngừa ung thư vú.

Dựa trên các dấu hiệu di truyền. Bác sĩ của bạn có thể chọn những loại thuốc có khả năng tấn công ung thư hiệu quả nhất cho bạn. Bác sĩ sẽ dựa vào các dấu hiệu di truyền để xác định xác suất ung thư vú lan đến bộ phận khác.

Khi nào thì nên gọi cho bác sĩ?

Bạn nên gọi điện cho bác sĩ ngay lập tức nếu bạn cảm thấy khối u hoặc sự dày lên bất thường ở ngực. Bạn nên gọi điện cho bác sĩ nếu phát hiện

– Núm vú bị thụt vào trong

– Núm vú tiết dịch

– Ngực sưng hoặc thay đổi hình dạng

– Da ngực đỏ hoặc xuất hiện chấm nhỏ

Dự đoán bệnh

Chẩn đoán sớm sẽ cải thiện đáng kể tình hình những phụ nữ bị ung thư vú. Nếu khối u nhỏ và bị hạn chế trong vùng ngực. Hơn 90% phụ nữ sẽ sống sót trong năm năm hoặc hơn. Tuy nhiên, nếu bệnh lan truyền khắp cả cơ thể trước khi được chẩn đoán. Tỉ lệ trên giảm xuống còn dưới 20%.

Ung thư một bên vú khiến vú bên kia có tỉ lệ mắc ung thư cao hơn bình thường. Điều này vẫn đúng dù bạn đang được điều trị bằng phương pháp chặn estrogen. Phải thường xuyên kiểm tra và chụp X-quang tuyến vú.

Theo WMH

Đóng góp ý kiến của bạn...