Những yếu tố quyết định cơ bản khi trẻ mới sinh ra

Những yếu tố quyết định cơ bản khi trẻ mới sinh ra
5 (100%) 1 vote

Các yếu tố quyết định sức khỏe cơ bản của trẻ khi sinh ra có liên quan đến tuổi của người mẹ lúc bắt đầu có con, điều kiện dinh dưỡng của người mẹ trong thời kỳ có thai và cho con bú.

yếu tố quyết định trẻ mới sinh ra

Các yếu tố quyết định sức khỏe cơ bản của trẻ khi sinh ra có liên quan đến tuổi của người mẹ lúc bắt đầu có con, điều kiện dinh dưỡng của người mẹ trong thời kỳ có thai và cho con bú, tình trạng sức khỏe của người mẹ khi có thai và nuôi con, điều kiện lao động và môi trường sống của người mẹ mang thai và cho con bú. Cần lưu ý đến 4 yếu tố này để trẻ sinh ra được khỏe mạng và phát triển tốt.

Theo các nhà khoa học, thời kỳ chu sinh được tính từ khi thai được 28 tuần tuổi cho đến khi trẻ sinh ra trong 7 ngày đầu. Do đó khi tính tỉ lệ tử vong chu sinh thì phải tính đến tất cả những trường hợp sảy thai, thai chết lưu và số trẻ sinh ra trong 7 ngày đầu có dấu hiệu sống. Chăm sóc chu sinh còn được gọi là chăm sóc trẻ từ trong bào thai và trong 7 ngày đầu sau khi trẻ sinh ra đời.

Chăm sóc chu sinh cũng được xem là chăm sóc sức khỏe cho người mẹ để bảo vệ và phát triển sức khỏe cho con. Hiện nay việc chăm sóc chu sinh không phải bắt đầu từ khi đứa trẻ vào thời kỳ chu sinh như: đã nêu ở trên mà bắt đầu sớm hơn rất nhiều. Các nhà khoa học đã chứng minh rằng những yếu tố di truyền, chủng tộc, giống nòi có ý nghĩa lớn đến các yếu tố bẩm sinh của sức khỏe trẻ sinh ra. Các yếu tố khác như tuổi tác, điều kiện dinh dưỡng của người mẹ khi mang thai, sức khỏe và điều kiện lao động của người mẹ… là các yếu tố quyết định đến sức khỏe cơ bản của trẻ. Nhiều nước trên thế giới đã bắt đầu thực hiện chăm sóc chu sinh bằng những biện pháp khác nhau như giáo dục di truyền, giáo dục hôn nhân và gia đình…

Các yếu tố quyết định sức khỏe cơ bản của trẻ khi sinh ra có liên quan đến tuổi của người mẹ lúc bắt đầu có con, điều kiện dinh dưỡng của người mẹ trong thời kỳ có thai và cho con bú, tình trạng sức khỏe của người mẹ khi có thai và nuôi con, điều kiện lao động và môi trường sống của người mẹ mang thai và cho con bú. Mỗi yếu tố có một số vấn đề cần được quan tâm thực hiện.

Xem thêm:

Tuổi của người mẹ khi bắt đầu có con

Các nhà khoa học khuyến cáo người phụ nữ chỉ nên bắt đầu có con khi cơ thể đã phát triển hoàn chỉnh. Chiều cao con người lớn lên với tốc độ nhanh nhất là trong quá trình phát triển ở bào thai và trong 3 năm đầu. Ở thời kỳ này, trẻ đã có những cơ sở hoàn thành được 50% chiều cao vĩnh viễn của mình. Sau đó cơ thể vẫn tiếp tục lớn lên và phát triển cho đến 25 tuổi.

Người phụ nữ lấy chồng sớm và sinh con sớm sẽ làm ngừng quá trình phát triển bình thường này. Chiều cao của trẻ phụ thuộc vào chiều cao của người mẹ. Trên thực tế ghi nhận ở các nước nghèo và kém phát triển, dân tộc đó thường thấp và lùn; hiện tượng này còn phụ thuộc vào tập quán phụ nữ lấy chồng sớm và sinh con sớm khi cơ thể chưa hoàn toàn trưởng thành.

Theo điều kiện sinh lý, cơ thể của người phụ nữ sau 30 tuổi đã bắt đầu có hiện tượng thoái hóa, nhất là sau 35 tuổi. Nếu trong thời gian này sinh con, đứa trẻ dễ bị các rối loạn gen, điển hình là trẻ bị hội chứng Down kèm theo các dị tật bẩm sinh và chậm phát triển thể chất, tinh thần. Do đó tuổi sinh sản của người phụ nữ tốt nhất là từ 25 – 30. Nếu chiều cao của người mẹ dưới 140cm thì khi sinh con sẽ gặp phải rất nhiều hiện tượng xấu.

Điều kiện dinh dưỡng của người mẹ trong thời kỳ mang thai và cho con bú

Các nhà khoa học khẳng định yếu tố dinh dưỡng của người mẹ quyết định sự phát triển sức khỏe của đứa con khi sinh ra. Nhu cầu dinh dưỡng của người mẹ trong quá trình mang thai và cho con bú phải tăng hơn lúc bình thường. Nhu cầu về năng lượng trong một ngày của người phụ nữ bình thường là 2.200kcal, lúc có thai cần 2.550kcal và khi cho con bú cần đến 2.750kcal. Nhu cầu về chất đạm, vitamin A, vitamin C, sắt, canxi cũng tăng lên. Theo đó, người mẹ phải ăn tăng hơn mức bình thường lúc có thai và khi cho con bú để bảo đảm nhu cầu về năng lượng cần thiết cũng như chất đạm, vitamin A, vitamin C, đặc biệt là canxi.

Vai trò của chất đạm trong trường hợp này đặc biệt cần thiết để tạo ra chiều cao của đứa trẻ và phát triển tế bào thần kinh trung ương của vỏ não. Các nhà khoa học ghi nhận trong quá trình mang thai nếu người mẹ ăn nhiều chất bột, con sinh ra cũng nặng cân nhưng chiều cao sẽ không được cải thiện hơn chiều cao của cha mẹ. Quá trình gián phân tế bào tạo ra số lượng tế bào thần kinh sọ não chủ yếu cũng xảy ra trong thời kỳ bào thai và 3 tháng đầu sau khi sinh. Sau đó các tế bào thần kinh chỉ lớn lên mà không sinh thêm về số lượng của nhân tế bào. Do đó chất đạm của người mẹ ăn trong khi mang thai chẳng những quyết định sự phát triển tốt chiều cao của đứa trẻ mà còn quyết định cả trí lực và tinh thần của trẻ lâu dài về sau. Cần chống các tập tục ăn kiêng khem khi mang thai, người mẹ ăn kiêng khem sẽ dẫn đến bệnh thiếu vitamin B1, bệnh quáng gà vì thiếu vitamin A, dự trữ ít vitamin A ở gan trẻ từ bào thai sẽ dễ sinh ra chứng mù lòa sau này.

Tình trạng sức khỏe của người mẹ khi mang thai và nuôi con

Trong 3 tháng đầu tiên của thời kỳ phôi thai là thời kỳ biệt hóa, nếu người mẹ bị nhiễm một số bệnh cấp tính như cúm, sốt cảm… cũng có thể gây ra tai biến đối với bào thai với các dị tật bẩm sinh như: sứt môi, hở hàm ếch, tật tim bẩm sinh, tật thận bẩm sinh… Vì vậy khi vừa tắt kinh, có biểu hiện dấu hiện mang thai, người mẹ cần đi khám ngay để xác định và khuyến cáo dự phòng tiên lượng các trường hợp có thể sinh ra đứa con không bình thường.

yếu tố quyết định trẻ mới sinh ra

Từ tháng thứ 4 trở đi, nếu người mẹ mắc các bệnh mạn tính như: viêm thận, viêm gan, thấp tim, lao, sốt rét, thiếu máu… thì đều có ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của thai nhi. Vì vậy các nhà khoa học khuyến cáo người phụ nữ chỉ nên có con khi có tình trạng sức khỏe tốt, tốt nhất là cả hai vợ chồng đều khỏe mạnh. Đồng thời một số bệnh của người mẹ có thể lây truyền cho con qua nhau thai, qua đường máu như viêm gan virút, HIV/AIDS, giang mai…

Nếu người mẹ bị bệnh lậu, đứa con sinh ra có thể bị lây nhiễm bệnh lậu và mù mắt. Nếu người mẹ bị bệnh giang mai, đứa con sinh ra sẽ bị bệnh giang mai bẩm sinh. Trẻ em bị lây nhiễm HIV/AIDS từ máu người mẹ mắc bệnh là nguy cơ lớn nhất của thời đại hiện nay. Ngoài ra trong những vùng có bệnh sốt rét lưu hành, nhau thai người mẹ bị nhiễm ký sinh trùng sốt rét làm cho bào thai kém phát triển, có thể gây sảy thai, thai chết lưu hoặc sinh non. Sau mỗi lần sinh, người mẹ phải mất thời gian khoảng 3 năm mới phục hồi được sức khỏe, nếu điều kiện sinh đẻ dày hơn thì thai nhi sau này sẽ kém phát triển.

Điều kiện lao động và môi trường sống của người mẹ mang thai và cho con bú

Thực tế cường độ lao động nặng nhọc của người mẹ mang thai sẽ tiêu hao rất nhiều năng lượng cần được dự trữ cho bào thai. Các nhà khoa học đã quan sát được sự tăng cân của người mẹ khi mang thai ở những nước có nền kinh tế khác nhau và ghi nhận rõ ảnh hưởng của chúng đến mức độ cân nặng của trẻ lúc mới sinh. Ở những nơi thiếu ăn, điều kiện lao động nặng, sự cân nặng của bào thai luôn luôn bị suy giảm. Trong hơn 9 tháng mang thai, mức độ cân nặng của người mẹ ít nhất phải tăng được 12,5kg; trong đó 7,5kg là bào thai, nhau thai, nước ối; 5kg là số dư của chất mỡ dự trữ được béo ra trong quá trình này sẽ là nguồn năng lượng dành lại để tiết sữa, nuôi con sau khi sinh. Ở những nước nghèo, thiếu ăn; người phụ nữ mang thai chỉ tăng từ 6 – 7kg nên sau đó thường không có sữa để nuôi con.

Quá trình tăng cân của người mẹ mang thai thường diễn ra bình thường theo mức độ 3 tháng đầu chỉ lên 1kg, 3 tháng tiếp theo lên 5kg và 3 tháng cuối cùng lên 6kg. Mức cân nặng tăng nhiều nhất là các tháng cuối của thai kỳ. Lúc này trẻ lớn nhanh, người mẹ nên tránh lao động nặng để dành sức lực cho việc sinh nở và dành năng lượng cho thai nhi phát triển lên cân tốt. Thực tế mức cân nặng của người mẹ trước khi mang thai dưới 40 kg được xem là thuộc diện có nguy cơ cao khi sinh đẻ.

Những người mẹ mang thai phải lao động nặng nhọc cho đến ngày sinh, môi trường làm việc không an toàn như trường hợp tiếp xúc với phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, chất độc hóa học dioxin; có những tập quán xấu như uống rượu, hút thuốc lá… sẽ làm ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của thai nhi. Một số thuốc kháng sinh như tetracycline có tác dụng gây quái thai, hủy hoại mầm thai; thuốc prednisolone là một loại corticoide cấm không được sử dụng cho người mẹ mang thai và cho con bú vì sẽ làm trẻ bị loãng xương, chậm lớn.

Khi mang thai, người mẹ cần nhiều không khí và ánh sáng. Những nơi làm việc ồn ào, bụi bặm, thiếu ánh sáng, thiếu không khí sẽ làm thai nhi phát triển chậm. Có những trường hợp trẻ bị còi xương bẩm sinh do người mẹ mang thai luôn luôn ở trong nhà, trốn ánh nắng nên bị thiếu vitamin D.

Theo SKĐS

Loading...

Đóng góp ý kiến của bạn...

/* ]]> */